Nghĩa vụ của luật sư trong việc giữ bí mật thông tin

Câu hỏi

Luật sư K là đại diện theo ủy quyền cho ông A trong giải quyết vụ tranh chấp bản quyền với Công ty Cổ phần X. Do vậy, luật sư K biết được một số thông tin về đời tư cá nhân ông A. H là bạn của luật sư K muốn biết những thông tin về đời tư của ông A nên đã tìm gặp luật sư K.
Xin hỏi, luật sư K có được tiết lộ những thông tin về cá nhân ông A không, nếu những thông tin đó không liên quan đến vụ tranh chấp quyền sử dụng đất của ông A?

Trả lời

Việc giữ bí mật thông tin là một trong những nghĩa vụ của luật sư khi hành nghề. Điều 25 Luật luật sư quy định luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác; luật sư không được sử dụng thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề vào mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tổ chức hành nghề luật sư có trách nhiệm bảo đảm các nhân viên trong tổ chức hành nghề không tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng của mình.

Đồng thời tại Quy tắc số 12 của Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư (ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ) ngày 20/7/2011) cũng quy định: Luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng khi thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật; luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng nghiệp có liên quan và nhân viên của mình cam kết không tiết lộ những bí mật thông tin mà họ biết được và giải thích rõ nếu tiết lộ thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Cũng theo quy định tại Điểm đ Khoản 6 Điều 6 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 thì luật sư sẽ bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư hoặc Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam từ 06 tháng đến 12 tháng khi tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác.

Như vậy, luật sư K không được tiết lộ bất kỳ thông tin gì về ông A nói riêng và khách hàng nói chung cho bất kỳ ai (trừ trường hợp đồng ý bằng văn bản của khách hàng hoặc theo quy định của pháp luật – như theo yêu cầu của cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát để giải quyết vụ án hoặc cơ quan chức năng nhà nước khác để giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo).

Trân trọng./.