Trường hợp luật sư không được thực hiện dịch vụ pháp lý

Câu hỏi
Bà B có tranh chấp quyền sử dụng đất với ông D ở tỉnh X, do sinh sống ở tỉnh Y nên bà B có ký hợp đồng dịch vụ pháp lý và thuê luật sư S thay mặt mình giải quyết việc tranh chấp quyền sử dụng đất với ông D. Trong một lần về quê giỗ tổ, luật sư S gặp ông D ở nhà thờ tổ - ông D là người họ hàng xa với luật sư S. Biết S là luật sư, ông D có nhờ luật sư S tư vấn cách giải quyết vụ việc tranh chấp quyền sử dụng đất với bà B.       Xin hỏi, trong trường hợp này, luật sư S có được tư vấn cách giải quyết việc tranh chấp này cho ông D không?

Trả lời

Trong trường hợp trên, luật sư S không được thực hiện dịch vụ pháp lý hoặc tư vấn pháp luật cho một trong hai người là bà B hoặc ông D theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 9 Luật luật sư về những hành vi bị nghiêm cấm.

Cụ thể Khoản 1 Điều 9 Luật luật sư quy định 10 hành vi bị nghiêm cấm đối với luật sư như sau:

a) Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng có quyền lợi đối lập nhau trong cùng vụ án hình sự, vụ án dân sự, vụ án hành chính, việc dân sự, các việc khác theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là vụ, việc);

b) Cố ý cung cấp hoặc hướng dẫn khách hàng cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật; xúi giục người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, đương sự khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật;

c) Tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản hoặc pháp luật có quy định khác;

d) Sách nhiễu, lừa dối khách hàng;

đ) Nhận, đòi hỏi thêm bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thoả thuận với khách hàng trong hợp đồng dịch vụ pháp lý;

e) Móc nối, quan hệ với người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cán bộ, công chức, viên chức khác để làm trái quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ, việc;

h) Lợi dụng việc hành nghề luật sư, danh nghĩa luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

i) Nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích khác khi thực hiện trợ giúp pháp lý cho các khách hàng thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật; từ chối vụ, việc đã đảm nhận theo yêu cầu của tổ chức trợ giúp pháp lý, của các cơ quan tiến hành tố tụng, trừ trường hợp bất khả kháng hoặc theo quy định của pháp luật;

k) Có lời lẽ, hành vi xúc phạm cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình tham gia tố tụng;

l) Tự mình hoặc giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn, kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác.

Như vậy, luật sư S chỉ được thực hiện dịch vụ pháp lý cho một người; do đã ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với bà B thì phải từ chối tư vấn cho ông D và nên giải thích cho ông D hiểu quy định của pháp luật về việc cấm cung cấp dịch vụ pháp lý trong trường hợp này.

Cũng theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam (ban hành tại Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ  ngày 20/7/2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc) thì luật sư, tổ chức hành nghề luật sư không nhận vụ việc của khách hàng mới có sự đối lập về quyền lợi với khách hàng mà luật sư đảm nhận theo Hợp đồng dịch vụ pháp lý đang còn hiệu lực thực hiện trong cùng một vụ án hoặc vụ việc khác theo quy định của pháp luật (điểm 11.2.2. Quy tắc 11).

Trong trường hợp luật sư S vừa đại diện cho bà B và vừa tư vấn cho ông D trong cùng một vụ tranh chấp quyền sử dụng đất ở tỉnh X thì luật sư S sẽ bị tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư, giấy đăng ký hành nghề luật sư từ 06 tháng đến 12 tháng theo quy định tại Điểm b Khoản 6 Điều 6 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã (sau đây gọi là Nghị định số 110/2013/NĐ-CP).

Trân trọng./.